Loading...
ditichlamkinh.vn

Lời ngỏ

Khu di tích lịch sử Lam Kinh cách thành phố Thanh Hóa 50km về phía Tây. Nằm trên địa bàn xã Xuân Lam, Thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Lam Kinh quê hương đất tổ nhà Lê - nơi sinh ra anh hùng dân tộc Lê Lợi, nơi phát tích cuộc khởi nghĩa Lam Sơn lừng lẫy chiến công thế kỷ XV …

TRUYỀN THUYẾT CỔ TÍCH


Cuối thế kỷ 14 đầu thế kỷ 15, nước Đại Việt phải trải qua nhiều biến cố lịch sử thăng trầm. Tội ác của quân Minh xâm lược đối với muôn dân nước Việt không thể kể xiết, " trúc Nam Sơn không ghi hết tội, nước Đông Hải không rửa sạch mùi". Quân địch tưởng rằng, với việc đàn áp, khủng bố bằng bạo lực như vậy, có thể đè bẹp ý chí đấu tranh bất khuất của dân ta, nhưng những tội ác đẫm máu của chúng chỉ càng khơi sâu thêm lòng căm thù quân xâm lược, khích lệ tinh thần xả thân vì nước của hào kiệt và muôn dân đất Việt.

  Trong hoàn cảnh ấy, nhiều anh hùng nghĩa sỹ đã phất cờ khởi nghĩa, kêu gọi dân chúng chống giặc Minh. Cùng thời điểm đó, tại vùng đất Lam Sơn Thanh Hóa, một ngọn lửa đấu tranh mới cũng đang dần được nhen lên. Đó là ngọn cờ khởi nghĩa của Bình Định Vương Lê Lợi.

           Nắm được thời thế, hiểu được lòng dân, nên Lê Lợi đã nhận được sự ủng hộ của những bậc hiền tài và dân chúng khắp các vùng. Kể từ khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, truyền hịch kêu gọi nhân dân cả nước vùng lên chống giặc ngoại xâm, phát triển lực lượng và mở rộng hoạt động khắp miền thượng du Thanh Hóa.

           Thời kỳ đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ( 1416), Lê Lợi thường cải trang làm nhà buôn đi đến các vùng núi phái tây Thanh Hoá, liên kết với các tù trưởng, Phịa, Tạo nhằm tập hợp lực lượng chống đối giặc Minh. Một hôm Lê Lợi cùng với hai người bạn đi qua cánh đồng bản Bo. Giữa trưa, trời nắng nóng, ba người nhìn thấy chiếc lều giữa đồng vào xin nghỉ tạm. Chủ nhân của chiếc lều là ông Ban  ở bản Bo,  nhìn thấy trong toán khách có một người quắc thước, trán cao, mắt sáng, miệng rộng, bước đi chắc nịch, dáng vẻ tướng quân, ông Ban suy đoán họ là những người sang trọng đáng kính nên vui vẻ mời họ vào lều nghỉ tạm.

           Theo tập quán  địa phương, khách đến nhà đúng bữa chủ phải mời cơm. Nhưng Ông  chỉ có một ép cơm nếp và một bát canh ui mang theo. Vì quý khách ông quyết định làm thịt con chó của nhà theo ông đi cày. Bữa cơm đặc biệt ấy gồm có cơm nếp, canh ui và thịt chó thui, cả chủ và khách đều rất vui vẻ, ngon miệng. Vừa ăn, khách vừa hỏi thăm nhiều chuyện, từ đường đi lối lại, đến đời sống của dân Mường Ký và thái độ của họ đối với Lê Lơi  và giặc Minh. Ông Ban thổ lộ tâm can, bày tỏ  lòng căm thù giặc Minh xâm lược và cảm phục Lê Lợi, nhưng vẫn lo cho Lê Lợi vì quân ít , lương cạn. Người khách đem ra một ống cát, bảo ông Ban đếm từng hạt, ông lắc đầu, người khách giải thích.

           Nước Nam ta người đông như cát, nếu ai cũng ủng hộ Lê Lợi đánh giặc  cứu nước thì thiếu gì quân với lương.

           Ông Ban cảm thấy như chính mình đang nói chuyện với Lê Lợi.

           Trước khi đi người khách nói: Nếu sau này thành nghiệp, ông và dân bản còn nhớ đến tôi thì hãy lập một đền thờ ở đây. Mỗi khi cúng xin dân bản dâng cho tôi 3 thứ ngon nhất mà tôi được ăn hôm nay, đó là cơm nếp, canh ui, thịt chó thui.

           Ba người khách ra  đi, ông Ban đem chuyện thuật lại với dân bản. Mọi người luyến tiếc vì không được gặp  đoàn khách nọ.

           Vài hôm sau, một trong ba người lính của nhà vua đã quay trở lại báo cho dân bản biết, hôm trước Lê Lợi đã đi qua vùng này, Ông chuyển lời Lê Lợi cảm ơn ông Ban và kêu gọi dân bản phối hợp với nghĩa quân, chuẩn bị lương thực, tìm người dẫn đường, dò la tin tức của giặc, sử dụng các công cụ bẫy, chông, nỏ , cung... để đánh giặc.

           Một thời gian sau. Lê Lợi bị giặc Minh bao vây ở núi Chí Linh. Khi chạy phá vòng vây của giặc, Lê Lợi bị quân Minh và đàn chó ngao đuổi theo ráo riết. Chạy mãi lên đến đỉnh đèo, nhận ra phía trước là một thung lũng rộng lớn và bản Mường đã từng đi qua, Lê Lợi thở phào nhẹ nhõm thốt lên:

           Sống rồi, sống rồi " hạnh mụm, hanh mụm". Vì thế đèo đó ngày nay gọi là đèo Kẹm Hanh( Pu Kẹm Hạnh), nghĩa là Đèo Sống.

           Hồi ấy Mường Ký còn mang tên Mường Muồn. Dân Mường biết nghĩa quân Lam Sơn đến, liền họp nhau lại đón tiếp, ủng hộ lương ăn, quần áo mặc cho nghĩa quân. Dựa vào địa thế kín đáo, Lê Lợi dừng lại một thời gian để củng cố lực lượng( Dấu tích còn lại ở Xã Văn Nho hiện nay là Luốc Mạ ( nơi thả ngựa) và Chiếng Chạng (nơi có giếng voi uống nước). Quân giặc phát hiện thấy dấu vết nghĩa quân, tung chó ngao đi lùng sục. Dân Mường bày kế dùng mảng nứa làm cầu nổi vượt qua đầm lầy giữa cánh đồng ở bản Ấm, rồi nhử chó ngao lên trên cầu, đến giữa đầm lầy giữa, nghĩa quân rút màng hất chó ngao xuống đầm lầy ( Đầm lầy ấy đặt tên là Pung Ma Háng, nghĩa là đầm chó sa lầy).

           Một thời gian sau, Lê Lợi chuyển quân về phía tây, đi đến Đèo Gió ( Kéo Lùn), chẳng may voi chiến bị sa chân xuống khe đá mắc lại không đi được( nơi đó nạy gọi là Huối chạng Ca, nghĩa là khe mắc voi). Để đánh lạc hướng giặc, Lê Lợi trở lại theo con đi chéo lên đỉnh núi ( Suối đó sau này đặt tên là Kéo Léo nghĩa là lệch chéo, nói chệch thành suối Kếu Lừu, đó là đoạn đầu nguồn suối Bo ngày nay).

           Lúc này, quân Minh đóng quân ở mường Ca Da ( Quan Da). Lê Lợi bố trí các trận phục kích, đặt chông, bẫy dọc theo sông Lò dưới chân núi Phay Lệnh, Phay Tong, gây cho quân Minh nhiều thiệt hại. Để chồng lại đàn chó ngao săn lùng nghĩa quân. Dân bản bày cho nghĩa quân một loại bẫy trượt ( tiếng thái gọi là Pát) để giết chó ngao. Hàng loạt chó ngao bị chết mà quân Minh không hề biết nguyên nhân( nơi đặt bẫy chó ngao gọi là Ma Pát). Sau khi chuẩn bị lực lượng đủ mạnh, Lê Lợi mới xuất quân xuống núi, tiến đánh quân Minh ở Ca Da( Quan Da) trận này nghĩa quân thắng lớn.

           Khởi nghĩa Lam Sơn kết thúc, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, thiết lập triều đại Hậu Lê, mở ra một nền thái bình thịnh trị cho đất nước kéo dài gần 360 năm.

           Để ghi nhớ công đức của vua Lê Thái Tổ, tại Mường Ký, xã Văn Nho, huyện Bá Thước, nhân dân địa phương đã dựng hai đền thờ để thờ vua Lê ở trên quê hương mình. Một đền thờ dựng trên núi Lai Li, Lai Láng tại gốc cây Chu Đá nơi vua Lê đóng trại tạm trú ( do đó, núi Lai Li, Lai Láng nay đổi thành  Pù Đền). Một đền thờ đặt trên gò ruộng Đon Ban, nơi người nông dân tên Ban đãi cơm nhà vua. Mỗi khi cúng tế ở Đon Ban không thể thiếu ba thứ là cơm nếp, canh ui và thịt chó thui.

           Hằng năm, vào ngày 20,21,22 tháng 8 âm lịch, ngưới dân Mường Ký, xã Văn Nho tổ chức lễ hội. Lễ hội này được đồng bào Mường Ký đặt tên là lễ hội " Căm Mương".

           Lễ hội Căm Mương bắt nguồn từ sự kết hợp giữa tục lệ cúng " vía lúa" của người Thái cổ và nghi lễ cúng giỗ vua lê Thái Tổ. Căm Mương tiếng Thái là " kiêng kỵ", hay " thiêng liêng". Trong những ngày diễn ra lễ hội tất cả mọi người trong Mường phải nhớ "Củi không được vác, rau không được hái, vải không được dệt, vợ chồng không được ôm ấp".

           Lễ hội Căm Mương ở Văn Nho chứa đựng nội dung khá phong phú, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của người dân đối với thần linh, với các bậc tiền nhân đã có công lập Mường giữ nước, đồng thời thể hiện ước muốn của cư dân nông nghiệp cầu cho mùa lúa trĩu bông, chắc hạt " bông lúa dài như đuôi trâu", cho dân bản được bình an, mạnh khẻo, cuộc sống yên vui, ruộng nương tốt tươi. Đây cũng là dịp để mọi người trong Mường nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, giao lưu với nhau để chuẩn bị bước vào mùa thu hoạch. Chính vì vậy, lễ hội Căm Mương có sức hút và lan toả khắp vùng, có sức sống bền vững được duy trì, bảo tồn và phát triển trong quá trình lịch sử hàng ngàn năm cho đền ngày nay.

           Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn  cách chúng ta gần 6 thế kỷ, nhưng những dấu tích của nghĩa quân Lam Sơn và  Lê Lợi vẫn còn nguyên giá trị trong lòng dân tộc. Đây chính là dấu ấn tâm linh của quá trình lịch sử lâu dài, trở thành chốn đi về của những ai thành tâm với cõi linh thiêng, hướng về cội nguồn, tiên tổ.

 

LÀNG TÚNG - DỐC NGÁN - NÚI CHAN

       ( xã Ngọc Khê, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa)

              Có những địa danh tên đất, tên làng có từ xa xưa, nhưng do sự biến đổi của xã hội, sự thay đổi về hành chính  nên không còn tồn tại.  Nhưng lại có những địa danh tồn tại cùng với  sự phát tiển của xã hội, gắn bó mật thiết với đời sống của người dân  cho đến ngày nay.

              Theo các cụ cao niên trong làng kể lại rằng: Làng Túng xã Ngọc Khê, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa có cách đây khoảng 600 năm và tồn tại phát triển trong không gian văn hóa Mường cho tới ngày nay. Địa danh Làng Túng là do Lê Lợi đặt tên. Vào khoảng thế kỷ 14 - 15, khi Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn bị quân Minh truy đuổi, vây hãm ráo riết. Quân Minh lùng sục khắp nơi nhằm dập tắt phong trào khởi nghĩa chống giặc Minh của quân dân nước Đại Việt, nghĩa quân Lam Sơn phải bí mật rút lên núi Chí Linh (Pù Rinh) (Lang Chánh) để bảo toàn lực lượng. Đến  vùng  đất Ngọc Lặc, Lê Lợi chia làm hai cánh quân. Một cánh quân chạy lên phía Tây núi Chí Linh, một cánh quân do ông thân chinh chỉ huy chạy theo hướng Bắc, cách đồn Nga Lặc chừng một dặm. Con đường chạy về hướng Bắc lại bị quân Minh án ngữ phía đầu dốc núi. Lê Lợi và toán nghĩa quân rơi vào thế "tiến thoái lưỡng nan". Đang lúng túng không biết chạy đường nào thì may thay có một cụ già dẫn Lê Lợi và nghĩa quân đi đường tắt lên Lang Chánh, tránh được sự truy đuổi của quân giặc. Sau này, khi lên ngôi, nhớ lại lúc khó khăn Lê Lợi gọi làng đó là làng Túng (lúng túng trước sự lùng bắt của giặc Minh mà Lê Lợi chưa tìm ra lối chạy).

              Trong lúc bị quân Minh truy đuổi, Lê Lợi và nghĩa quân phải bí mật rút lên núi Chí Linh, đường đi gian nan, hiểm trở vượt qua bao nhiêu dốc mà chưa có dốc nào cao, dài và hiểm trở như dốc này, Lê Lợi nói nhìn thấy dốc mà ngán ngẩm, nhìn vào bản làng thì heo hút, thưa thớt, nhân dân nghèo đói.   Mặt khác đầu dốc núi nơi quân Minh án ngữ để đón bắt Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, giặc Minh ngao ngán vì chờ chẳng thấy Lê Lợi và nghĩa quân chạy qua. Vì vậy, Lê Lợi đặt tên cho nơi này là làng Ngán, dốc Nán(dốc Ngán) và tồn tại cho đến ngày nay. Ngọn núi nơi nghĩa quân vượt qua sang Mỹ Tân là núi Chan (chan chứa hy vọng thoát khỏi tay giặc). 

              Gần 6 thế kỷ trôi qua, những Truyện kể dân gian về địa danh tên đất, tên làng, tên sông , tên suối do Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn đặt tên vẫn còn lưu truyền qua nhiều thế hệ  và ghi sâu vào tâm trí của người dân nơi đây, là tư liệu quý giá để giáo dục cho thế hệ trẻ hiểu được tri thức dân gian, văn hóa - xã hội  của dân tộc Việt Nam tồn tại cho đến ngày nay.


Audio Guide

ditichlamkinh.vn

Thống kê

        Hướng dẫn tìm đường

 

 

Khu di tích lịch sử Lam Kinh
 
Định vị thiết bị

Bản quyền 2017 thuộc Ban quản lý Di tích Lam Kinh